Luật nuôi con nuôi số 52/2010/QH12
BRANDCO LAWFIRM - Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội mang tính nhân đạo, làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con lâu dài, ổn định giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm người được nhận làm con nuôi (trẻ em không có gia đình) được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình. Vì thế, mọi việc nuôi con nuôi đối với trẻ em, không kể là trẻ em trai hay trẻ em gái, đều phải hướng đến mục đích đó. Luật nuôi con nuôi mà Quốc hội mới ban hành ngày 28/06/2010 vừa qua đã quy định theo hướng như vậy.

- Ngày ban hành: 28/06/2010

- Ngày có hiệu lực: 01/01/2011

- Nội dung:

  1. Quy định chung.

  a)  Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định:

·         Nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi

·         Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi

·         Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ

·         Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi.

 b)  Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi:

·         Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc.

·         Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

·         Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước.

 c)  Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế:

·         Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

·         Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;

·         Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

·         Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

·         Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.

d)   Người được nhận làm con nuôi

·         Trẻ em dưới 16 tuổi

·         Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

ü       Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

ü       Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

e)  Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi:

·         UBND cấp xã nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.

·         UBND cấp tỉnh nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

·         Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài.

·         Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

                        f)  Các hành vi bị cấm:

·         Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.

·         Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.

·         Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.

·         Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.

·         Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

·         Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.

·         Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

2.       Nuôi con nuôi trong nước:

a)  Điều kiện đối với người nhận nuôi:

·         Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

·         Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên trừ trường hợp cha dượng, mẹ kế, cô, dì, chú, bác ruột.

·         Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi trừ trường hợp cha dượng, mẹ kế, cô, dì, chú, bác ruột.

·         Có tư cách đạo đức tốt.

b)  Các trường hợp không được nhận con nuôi:

·         Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

·         Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh

·         Đang chấp hành hình phạt tù;

·         Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

c) Trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em.

·         UBND cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm tìm người tạm thời nuôi dưỡng, nếu có người nhận nuôi thì xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu không có người nhận nuôi thì lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng.

·         Trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc cha mẹ, người thân thích không có khả năng nuôi dưỡng thì cha mẹ, người thân thích báo cáo UBND cấp xã nơi trẻ thường trú tìm gia đình thay thế. UBND sẽ niêm yết việc này trong thời gian 60 ngày, nếu có người nhận nuôi thì xem xét giải quyết, nếu hết hạn không có người nhận nuôi thì UBND lập hồ sơ và đưa vào cơ sở nuôi dưỡng.

·         Trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng cần có gia đình thay thế thì cơ sở nuôi dưỡng lập danh sách gửi Sở Tư pháp để Sở thông báo 3 lần liên tiếp trên báo viết phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông báo mà có người trong nước nhận nuôi thì thông báo đến UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú  giải quyết.

·         Hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận nuôi thì Sở Tư pháp gửi danh sách cho Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo trên cả nước. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông báo mà có người trong nước nhận nuôi thì liên hệ với UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú để giải quyết. Nếu hết thời hạn này không có người trong nước nhận nuôi thì Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.

Công dân VN có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi nhưng chưa tìm được con nuôi có thể đăng ký nhu cầu nhận con nuôi với Sơ Tư pháp nơi người đó thường trú.

d)   Hồ sơ của người nhận con nuôi

·         Đơn xin nhận con nuôi;

·         Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

·         Phiếu lý lịch tư pháp;

·         Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

·         Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

e)   Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

·         Giấy khai sinh;

·         Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

·         Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

·         Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

·         Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

Việc lập hồ sơ do cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc cơ sở nuôi dưỡng lập.

Hồ sơ được gửi tới UBND cấp xã nơi đăng ký thường trú của người nhận nuôi hoặc người được nhận nuôi. Thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

f)  Yêu cầu của việc nhận nuôi.

·         Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ.

·         Trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

·         Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.

·         Việc nhận nuôi phải được UBND cấp xã tổ chức đăng ký, trao giấy chứng nhận và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có ý kiến đồng ý cả những người có liên quan. Nếu từ chối đăng ký, UBND cấp xã trả lời bằng văn bản và nêu rõ lí do trong thời hạn 10 ngày

·         Sáu tháng một lần trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nhận nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng mọi mặt của con nuôi.

g)  Hệ quả của việc nhận nuôi con nuôi:

·         Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu thay đổi họ tên cho con nuôi trừ trường hợp con nuôi 9 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của con nuôi.

·         Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

·         Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ gì đối với con đã cho làm con nuôi.

                       h)  Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi:

·         Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

·         Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

·         Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

·         Hoặc thuộc các hành vi bị cấm quy định trong phần trên.

i)   Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

·         Cha mẹ nuôi.

·         Con nuôi đã thành niên.

·         Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

·         Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

ü       Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

ü       Hội liên hiệp phụ nữ.

k)  Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi

·         Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

·         Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác nuôi dưỡng.

·         Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt sẽ được khôi phục.

·         Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

·         Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.

 

3.  Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

a)   Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

·         Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

·         Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

·         Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

·         Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

·         Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

·         Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

·         Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.

·         Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.

·         Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.

b)   Điều kiện đối với người nhận con nuôi:

Ngoài các điều kiện như đối với trường hợp nuôi con nuôi trong nước thì người nhận nuôi còn phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật nước nơi người đó thường trú hoặc nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú.

Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ của người nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận phải được hợp pháp hóa lãnh sự khi sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

c)  Hồ sơ của người nhận con nuôi:

Ngoài những giấy tờ như đối với nhận con nuoi trong nước thì cần phải có các giấy tờ:

·         Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam

·         Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;

·         Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh.

·         Bản điều tra về tâm lý, gia đình;

Hồ sơ này được lập thành 2 bộ và gửi cho Bộ Tư pháp hoặc qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi nước nơi người đó thường trú.

Đối với người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài: ngoài những giấy tờ như trường hợp nhận con nuôi trong nước cần có thêm:

·         Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;

·         Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em nhưng không thành.

Hồ sơ này lập thành 3 bộ và nộp cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú.

d)   Trình tự, thủ tục để nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

Sở Tư pháp kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với trẻ em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị công an tỉnh xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp. Khi xác minh đủ điều kiện thì Sở Tư pháp xác nhận và gửi Bộ Tư pháp.

Bộ Tư pháp kiểm tra và xử lý hồ sơ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trường hợp nhận nuôi đích danh Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

e)   Trình tự, thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi :

·         Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thông báo cho Sở Tư pháp để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho Bộ Tư pháp; trường hợp không đồng ý thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

·         Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp kiểm tra việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nếu hợp lệ thì lập bản đánh giá việc trẻ em Việt Nam đủ điều kiện được làm con nuôi nước ngoài và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

·         Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú thông báo về sự đồng ý của người nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu, xác nhận trẻ em sẽ được nhập cảnh và thường trú tại nước mà trẻ em được nhận làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.

·         Người nhận con nuôi không được có bất kỳ sự tiếp xúc nào với cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trước khi nhận được thông báo giới thiệu trẻ em làm con nuôi, trừ trường hợp nhận nuôi con nuôi đích danh.

·         Trường hợp người nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi mà không có lý do chính đáng thì việc giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi của người đó chấm dứt.

·         Sau khi nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

·         Sau khi có quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp thông báo cho người nhận con nuôi đến Việt Nam để nhận con nuôi. Người nhận con nuôi phải có mặt ở Việt Nam để trực tiếp nhận con nuôi trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp; trường hợp vợ chồng xin nhận con nuôi mà một trong hai người vì lý do khách quan không thể có mặt tại lễ giao nhận con nuôi thì phải có ủy quyền cho người kia; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày. Hết thời hạn nêu trên, nếu người nhận con nuôi không đến nhận con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

·         Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp, trẻ em được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình.

·         Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện Sở Tư pháp.

·         Sau khi giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, biên bản giao nhận con nuôi, đồng thời gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài.

·         Bộ Tư pháp gửi quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài về việc trẻ em được nhận làm con nuôi để thực hiện biện pháp bảo hộ trẻ em trong trường hợp cần thiết.

·         Sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tư pháp và Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước nơi con nuôi thường trú về tình hình của con nuôi.

 f)  Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi nước ngoài của công dân Việt Nam ở trong nước:

·         Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải lập hồ sơ như đối với nhận nuôi con nuôi trong nước và gửi Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp xem xét, cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp nơi người đó thường trú xác minh thì thời hạn có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày.

·         Sau khi hoàn thành thủ tục, công dân Việt Nam thực hiện thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú.

 

g)  Tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam

·         Tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:

ü       Được thành lập và hoạt động hợp pháp, phi lợi nhuận trong lĩnh vực nuôi con nuôi trên lãnh thổ của nước là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi mà Việt Nam là thành viên;

ü       Được cơ quan có thẩm quyền về nuôi con nuôi của nước nơi thành lập cho phép hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam;

ü       Có thời gian hoạt động trong lĩnh vực con nuôi quốc tế liên tục từ 03 năm trở lên, không vi phạm pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền của nước đó xác nhận;

ü       Có đội ngũ nhân viên công tác xã hội và pháp lý hiểu biết về pháp luật, văn hóa, xã hội của Việt Nam và pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi;

ü       Người đại diện của tổ chức tại Việt Nam có đủ tiêu chuẩn về đạo đức, chuyên môn về lĩnh vực nuôi con nuôi.

·         Tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

ü       Tư vấn cho người nhận con nuôi về điều kiện kinh tế - xã hội, hoàn cảnh gia đình, môi trường xã hội, nhu cầu và sở thích của trẻ em Việt Nam;

ü       Thay mặt người nhận con nuôi thực hiện các thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi ở Việt Nam;

ü       Hỗ trợ tìm gia đình thay thế cho trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác;

ü       Được cung cấp thông tin, pháp luật và tham gia các khóa bồi dưỡng về nuôi con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tiến hành;

ü       Thuê trụ sở, sử dụng lao động Việt Nam làm việc theo quy định của pháp luật;

ü       Chấp hành pháp luật, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam;

ü       Định kỳ hằng năm báo cáo về tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi gửi Bộ Tư pháp;

ü       Hỗ trợ cha mẹ nuôi trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam cho trẻ em được nhận làm con nuôi;

ü       Nộp lệ phí cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động tại Việt Nam;

ü       Báo cáo tình hình hoạt động, chịu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của pháp luật.

·         Tổ chức con nuôi nước ngoài bị thu hồi giấy phép hoạt động tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

ü       Không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;

ü       Vi phạm nghĩa vụ quy định tại điểm e khoản 2 Điều này.

 Chính phủ quy định chi tiết mức thu, việc quản lý, sử dụng lệ phí và thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.

 

Các loại dịch vụ khác